Tuesday, June 16, 2026

Tản Mạn Tháng Sáu

 


Tháng Sáu. Những buổi chiều tan sở, tôi thường lái xe trên xa lộ Storrow Drive, con đường chạy dọc theo dòng sông Charles thơ mộng. Sông uốn cong, mềm mại như một nét cọ vẽ nên ranh giới tự nhiên giữa hai thành phố Boston và Cambridge. Bên này là những tòa nhà kính hiện đại lấp lánh dưới nắng; bên kia là những hàng cây xanh rợp bóng và những thảm cỏ trải dài ven bờ.
Rời Storrow Drive, xe tiếp tục lăn bánh về phía Charlestown. Ngọn tháp đá của Bunker Hill Monument dần hiện ra trên nền trời xanh thẳm. Công trình được xây dựng để tưởng niệm trận Bunker Hill năm 1775, một trong những trận đánh quan trọng đầu tiên của cuộc Chiến tranh Giành Độc lập Hoa Kỳ.
Không xa đài tưởng niệm là nghĩa trang Bunker Hill, nơi an nghỉ của nhiều người lính cả hai phía đã ngã xuống trong trận chiến năm ấy. Nghĩa trang mang vẻ đẹp cổ kính và tĩnh lặng. Những hàng bia đá nằm dưới bóng cây cổ thụ, giữa các thảm cỏ được chăm sóc cẩn thận.
Tuần trước là Memorial Day, ngày tưởng niệm các quân nhân Hoa Kỳ đã hy sinh trong chiến trận. Trước nhiều phần mộ vẫn còn những bó hoa tươi và những lá cờ nhỏ được cắm ngay ngắn trên nền cỏ non xanh mướt.
Tôi không rõ những người lính Anh từng ngã xuống trong trận chiến năm xưa có được tưởng niệm theo cách tương tự hay không. Nhưng có một điều dễ nhận thấy rằng, tất cả các phần mộ nơi đây đều được chăm sóc chu đáo như nhau, bất kể người nằm dưới đó là ai.
Buổi chiều, ánh nắng xuyên qua những tán lá, đổ những mảng sáng tối lên các phiến đá cũ. Không gian tĩnh lặng đến mức tưởng như có thể nghe thấy tiếng thời gian khẽ trôi. Nhìn những hàng bia đá nằm im dưới bóng cây, tôi chợt nghĩ rằng cuối cùng cái chết đã khép lại mọi tranh chấp và đối đầu. Người nằm xuống không còn là kẻ chiến thắng hay chiến bại. Theo năm tháng, mọi vinh quang hay thất bại đều lùi xa, chỉ còn lại sự im lặng.
Có lẽ vì quan niệm đó nên người Mỹ vẫn dành sự tôn trọng cho những người đã khuất, bất kể họ từng đứng ở phía nào của chiến tuyến. Đó không phải là sự tôn vinh chiến tranh, mà là sự tôn trọng đối với con người và những mất mát mà chiến tranh để lại. Và có lẽ, đó cũng là một trong những biểu hiện đẹp nhất của sự trưởng thành của một dân tộc khi nhìn lại quá khứ.
Đứng giữa những ngôi mộ được chăm sóc tươm tất ấy, tôi lại nghĩ đến Nghĩa trang Biên Hòa ở Việt Nam. Nghe đâu nơi từng là chốn yên nghỉ của hơn mười tám nghìn quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, nay nhiều phần mộ đổ nát, phủ đầy rêu phong theo năm tháng. Mỗi lần nghe nhắc đến điều đó, tôi không khỏi cảm thấy chua xót.
Người trở về sau nửa thế kỷ
Memorial Day khiến tôi nhớ đến câu chuyện của Karoni Forrester, người phụ nữ Mỹ đã dành hơn nửa thế kỷ đi tìm cha mình.
Karoni mới hai tuổi khi cha cô, Đại úy Ronald Wayne Forrester, mất tích trong một phi vụ trên bầu trời Việt Nam vào cuối năm 1972. Từ ngày ấy, ông chỉ còn là một cái tên trong hồ sơ quân đội, một tấm ảnh cũ trong gia đình và một khoảng trống chưa bao giờ được lấp đầy trong cuộc đời con gái mình.
Nửa thế kỷ là khoảng thời gian đủ để một đứa trẻ trở thành người già. Đủ để những cánh đồng chiến tranh phủ kín màu xanh. Đủ để một quốc gia thay đổi nhiều lần và một cuộc chiến lùi xa vào lịch sử. Nhưng Karoni chưa bao giờ từ bỏ.
Suốt hơn năm mươi năm, cô kiên trì đi tìm tung tích người cha mà ký ức về ông gần như không còn. Cuối cùng, nhờ những cuộc khai quật và giám định tại Việt Nam, hài cốt của Đại úy Ronald Forrester được xác định danh tính vào năm 2023.
Người cha ấy cuối cùng cũng trở về nhà. Ông trở về từ một cánh đồng lúa ở Quảng Bình, không phải bằng hình hài nguyên vẹn của một người lính năm xưa, mà chỉ bằng một mẩu xương nhỏ bằng ngón tay út. Nhưng chừng đó thôi cũng đủ để khép lại một hành trình đợi chờ kéo dài gần cả một đời người. Sau hơn năm mươi năm, người con gái ấy cuối cùng đã biết nơi cha mình nằm xuống.
Người Mỹ đã dành hàng chục năm và không biết bao nhiêu công sức để tìm kiếm từng dấu vết nhỏ nhất, từng mảnh xương còn sót lại, với mong muốn đưa một người lính trở về với gia đình.
Điều đó không chỉ nói lên tiềm lực của một quốc gia. Nó còn phản ánh một niềm tin sâu sắc rằng không ai bị lãng quên. Rằng ngay cả khi chiến tranh đã kết thúc từ lâu, món nợ đối với những người đã khuất vẫn chưa bao giờ được xem là đã trả xong.
Từ câu chuyện ấy, ý nghĩ của tôi lại bay về Việt Nam.
Bao nhiêu người lính của cả hai miền Nam - Bắc, bao nhiêu thường dân đã mất tích giữa rừng sâu, hay trên những cánh đồng hoang vu? Bao nhiêu người mẹ đã nhắm mắt mà vẫn không biết nơi con mình nằm lại? Bao nhiêu người vợ đã sống trọn cuộc đời bên một bàn thờ vọng, chờ đợi một người không bao giờ trở về?
Có những mất mát không kết thúc cùng ngày tiếng súng ngưng vang. Chúng kéo dài qua nhiều thế hệ như một vết thương âm thầm nhưng chưa bao giờ thực sự khép miệng.
Nếu Karoni có thể đặt tay lên quan tài cha mình và thì thầm: “Cuối cùng cha đã về nhà”, thì biết bao gia đình Việt Nam vẫn không bao giờ có cơ hội nói được câu ấy.
Có lẽ đó là một trong những bi kịch lớn nhất của chiến tranh. Không phải cái chết. Mà là sự mất tích.
Bởi cái chết, dù đau đớn đến đâu, vẫn là một sự thật để người sống học cách chấp nhận. Còn sự mất tích là một câu hỏi không có lời đáp, một nỗi chờ đợi không có ngày kết thúc, để lại phía sau những cuộc đời mãi mãi sống giữa hy vọng và tuyệt vọng.
Tháng Sáu nhạt mưa
Rời những câu chuyện chiến tranh và những hàng bia đá trầm mặc, tôi trở về với tháng Sáu của riêng mình.
Có những buổi chiều ngồi một mình trong quán cà phê, nhìn mưa rơi ngoài khung cửa, nghe những giai điệu hòa tấu chậm buồn. Mỗi lần như thế, tôi lại nhớ đến một bài hát của Ngô Thụy Miên. Và cùng với bài hát ấy, cả một Sài Gòn của những năm tháng xa xôi chợt hiện về trong ký ức.
Tình khúc tháng Sáu”, với câu hát mở đầu thật đẹp: “Tháng Sáu nhạt mưa, mưa ướt mềm vai em...”
Tôi vẫn thích bài hát ấy qua tiếng hát của Thanh Lan trước năm 1975. Trong giọng hát ấy có nét trẻ trung, tự nhiên và đầy cảm xúc. Về sau, dù nghe nhiều ca sĩ khác trình bày, kể cả Thanh Lan của những năm tháng sau này, tôi vẫn không tìm lại được cảm giác ban đầu. Có lẽ phần đẹp nhất của Tình khúc tháng Sáu tôi đã để lại bên kia bờ. Có lẽ không phải bài hát đã đổi thay, mà chính thời gian đã mang đi những con người, những khung cảnh và những rung động từng làm nên linh hồn của bài hát ấy.
Ngày ấy, những chiều cuối tuần, tôi thường cùng H ghé thăm Cảnh và Định trong căn phòng nhỏ ở cư xá Đô Thành. Hai người bạn từ Quy Nhơn vào Sài Gòn học đại học và thuê chung một chỗ ở.
Bao giờ cũng vậy, Cảnh mở thật khẽ những bản nhạc Ngô Thụy Miên phổ thơ Nguyên Sa. Căn phòng nhỏ, mấy người bạn trẻ, vài ly cà phê và tiếng nhạc vang lên giữa một Sài Gòn vẫn còn nhiều nét cũ.
“Tháng Sáu nhạt mưa, mưa ướt mềm vai em...”
Câu hát mở đầu của bài “Tình khúc tháng Sáu” lúc nào cũng khiến tôi xúc động. Chỉ vài chữ thôi mà cả một khung trời lãng mạn hiện ra trước mắt. Những con đường đầy bóng cây. Những tà áo dài trắng trong mưa. Những buổi hẹn hò vụng dại.
Có lần tôi đùa rằng đáng lẽ phải là “ướt mèm vai em” mới đúng. Vì như thế mới giống những cô nữ sinh co ro dưới cơn mưa Sài Gòn. H và Định lập tức phản đối om sòm, cho rằng tôi đang phá hỏng vẻ đẹp của nhạc Ngô Thụy Miên. Cuối cùng, như mọi lần, hai cô gái luôn thắng.
Thôi thì vai em cứ “ướt mềm” dưới mưa vậy.
Tôi nhớ những chiều đạp xe ra đường Nguyễn Du ngồi cà phê lá me. Chỉ một ly cà phê và vài điếu thuốc cũng đủ để ngồi hết cả buổi chiều. Lá me bay lẫn trong bụi mưa lất phất. Thành phố như chậm lại dưới màu trời xám nhạt. Và trong lòng những người trẻ tuổi khi ấy, dường như tương lai còn dài hơn cả con đường trước mặt.
Nhưng tuổi trẻ không phải lúc nào cũng đi đến nơi mình muốn.
Rồi một ngày, Cảnh bỏ đi thật xa.
Mùa hè năm 1978, khi tôi đang ở Đà Nẵng, Cảnh mất trong một chuyến vượt biển ở Rạch Giá. Bạn tôi bị bắn ngã khi cố chạy ra chiếc ghe đang cập bãi. Có người kể lại rằng họ đã nhìn thấy thi thể anh dập dềnh theo sóng nước, rồi mất hút giữa biển khơi. Năm ấy, Cảnh mới hai mươi ba tuổi.
Sau này, tôi nghe kể cha mẹ Cảnh đã từ Quy Nhơn lặn lội vào tận Rạch Giá để tìm con. Họ tìm khắp nơi nhưng không thấy thi thể, không thấy mộ phần, cũng không tìm được một dấu vết nào của anh.
Cuối cùng, thứ họ mang về chỉ là một đôi dép da màu nâu còn nằm lại trong căn nhà trú ẩn, giữa đống dép của những người đã vội vã chạy ra biển hôm ấy. Đó là vật duy nhất còn sót lại của đứa con trai duy nhất.
Tôi không biết người mẹ đã khóc như thế nào khi ôm đôi dép ấy vào lòng. Nhưng mỗi lần nghĩ đến, tim tôi vẫn se thắt.
Và cũng từ đó, tôi lại nhớ đến câu chuyện của Karoni Forrester. Một người cha trở về sau hơn nửa thế kỷ bằng một mẩu xương nhỏ. Một người con trai ra đi rồi mất hút giữa biển khơi, chỉ còn lại một đôi dép cũ. Giữa hai câu chuyện là cả một đại dương của mất mát, nhưng cũng có một khác biệt lớn lao.
Người con gái Mỹ ấy cuối cùng vẫn có thể nói: “Cha đã về nhà.” Còn mẹ của Cảnh, cũng như biết bao bà mẹ Việt Nam khác, chưa bao giờ có được niềm an ủi ấy. Người thân của họ ra đi và mãi mãi nằm lại đâu đó trong biển cả, rừng sâu hay những vùng đất vô danh.
Chiến tranh và những biến động của lịch sử đã lùi xa. Nhưng ở đâu đó, trong những ngôi nhà cũ, trên những bàn thờ vọng và trong ký ức của những người còn sống, vẫn còn những người chưa bao giờ trở về.
Quán cà phê vắng khách. Ngoài trời vẫn mưa. Bản Spring Waltz (Mariage d’Amour) của Chopin vang lên rất khẽ, như một dòng nước âm thầm chảy qua không gian. Trong tiếng nhạc ấy, tôi như nghe thấy đâu đó dư âm của một thời Tình khúc tháng Sáu Ngô Thụy Miên - những giai điệu đã từng gắn với một Sài Gòn xa lắc trong ký ức.
Ngoài khung cửa kính, mưa tháng Sáu vẫn rơi đều và nhẹ. Chiếc dù vẫn không đủ che kín một tà áo dài. Tháng Sáu vẫn đẹp, vẫn mang cái dịu dàng nhạt mưa của nó. Nhưng bây giờ, Cảnh đã đi quá xa. Định thì bặt tin từ dạo ấy. Còn H, tôi biết, đang ở một thành phố khác, nơi chỉ vài giờ bay là có thể tới. Nhưng khoảng cách đôi khi không đo bằng thời gian hay đường bay, mà bằng những điều không thể nói thành lời, không thể hẹn lại.
Những giọt mưa tháng Sáu vẫn lặng lẽ trượt dài trên ô cửa kính quán cà phê, tụ lại thành những dòng nhỏ rồi tan biến giữa chừng, như những phận người từng đi ngang qua cuộc đời này, thoáng hiện, rồi mất hút.
Tôi nghĩ đến những hàng mộ trong nghĩa trang Bunker Hill vào mùa Memorial Day, nơi cờ nhỏ vẫn cắm trên những nấm mộ dưới nắng đầu hè. Tôi nghĩ đến nghĩa trang Biên Hòa, nơi có những phần mộ không còn người thân lui tới. Tôi nghĩ đến Đại úy Ronald Forrester, hơn nửa thế kỷ sau vẫn tìm được đường trở về nhà từ một mẩu xương nhỏ. Và tôi nghĩ đến Cảnh, người bạn tuổi hai mươi của tôi, chỉ còn lại một đôi dép da màu nâu bên bờ biển Rạch Giá.
Mưa vẫn rơi ngoài kia. Tháng Sáu vẫn đẹp như thuở nào. Chỉ có những người đã đi xa là không còn mùa tháng Sáu nào để trở về nữa.
Trương Hữu Hiền
https://www.facebook.com/share/p/1H5mGFQWsx/

_______________________

Monday, June 15, 2026

Các bác sĩ, đây là lý do vì sao bệnh nhân của chúng ta đang dùng ChatGPT

 Doctors, This Is Why Our Patients Are Using ChatGPT

Đây là một bài viết đăng trên New York Times của một bác sĩ vừa là Giáo sư của đại học nỗi tiếng Columbia. Xin trân trọng chia sẻ:- Minh Hân Phan

——————————————

Doctors, This Is Why Our Patients Are Using ChatGPT
Các bác sĩ, đây là lý do vì sao bệnh nhân của chúng ta đang dùng ChatGPT
Dr. Ouyang is an emergency physician and an associate professor at Columbia.
May 24, 2026
——————————————
Vài tháng trước, tôi nhận kết quả của một số xét nghiệm máu định kỳ, và nói thật là có vài chỉ số hơi cao hơn mức bình thường. Bác sĩ của tôi khuyên: “tiếp tục ăn kiêng và tập thể dục”, rồi kết thúc phần ghi chú.
Nhưng trong vài năm gần đây, các chỉ số của tôi cứ nhích lên từng chút một, và tôi cảm thấy thất vọng vì dường như mình không làm được gì nhiều để cải thiện. Tôi yêu cầu được gọi điện trao đổi với bác sĩ — chắc hẳn cô ấy phải có lời khuyên tốt hơn những gì đã ghi — nhưng bác sĩ nhắn lại rằng nếu muốn bàn kỹ hơn về kết quả, tôi cần đặt thêm một cuộc hẹn khác.
Thế là tôi làm điều mà hầu như ai trong thời đại này cũng làm: tôi tìm đến trí tuệ nhân tạo. Không kỳ vọng nhiều, tôi nhập kết quả xét nghiệm của mình vào ChatGPT.
Với tư cách vừa là một bác sĩ, vừa là một bệnh nhân, tôi thấy trải nghiệm ấy thật đáng ngạc nhiên. Không phải vì ChatGPT làm tôi choáng ngợp bởi kiến thức khoa học của nó, mà vì nó hành xử đúng theo cách mà tôi vẫn mong nền y học hiện đại — và những người làm nghề y — còn giữ được.
Tôi từng nghĩ rằng “khía cạnh con người” trong y khoa là điều A.I. không thể chạm tới. Dĩ nhiên, tôi biết bác sĩ ngày nay đang dùng A.I. để hỗ trợ việc báo tin xấu, vì bệnh nhân thường cảm thấy những thông điệp do chatbot soạn thảo có vẻ đồng cảm hơn những gì bác sĩ viết. Nhưng trong thực tế, tôi vẫn nghĩ điều thật sự quan trọng là có một con người đang trực tiếp chăm sóc mình.
Chatbot ấy không chỉ trả về vài lời khuyên chung chung. Nó hỏi tôi về cuộc sống hằng ngày và tìm ra những điều tôi thực tế có thể thay đổi. Nó gợi ý tôi nên đi bộ ngắn ngay sau khi ăn — điều mà trước đây tôi chưa từng xem trọng. Khi tôi hỏi liệu tập một hoạt động dài hơn có tốt hơn không, nó cho biết lợi ích thêm vào có lẽ chỉ không đáng kể. Những lời khuyên của nó rất thực tế và dễ làm theo.
Khi tôi ngượng ngùng hỏi một câu có vẻ ngớ ngẩn — rằng nếu ăn kẹo vitamin dẻo sau khi đi bộ liệu có làm tăng đường huyết không — nó yêu cầu tôi gửi đường link sản phẩm cụ thể và phân tích kỹ thành phần. (Và câu trả lời là: không.)
Tôi cũng thoải mái nói với nó rằng có những gợi ý tôi chắc chắn sẽ không làm — như uống Metamucil hay những loại bột vỏ hạt mã đề (psyllium husk) — “xin miễn”. Nó phản hồi đầy thông cảm và đưa ra những lựa chọn thay thế khác. (Không hề tự ái.)
Dĩ nhiên, với tư cách bác sĩ, tôi biết khi nào nên đặt câu hỏi lại với chatbot và khi nào nên bỏ qua lời khuyên của nó. Nhưng nhiều bệnh nhân khác thì không.
Điều khác biệt là tôi có thể hỏi đi hỏi lại cùng một câu hỏi nhiều lần, mà chatbot chưa bao giờ tỏ ra khó chịu hay phán xét. Quan trọng nhất, nó luôn động viên tôi tiếp tục cố gắng — đúng kiểu chăm sóc ổn định, mang tính gắn kết mà chúng ta vẫn luôn khăng khăng rằng chỉ con người mới làm được.
Gần đây, tôi gặp một bệnh nhân mắc một dạng ung thư có khả năng chữa khỏi rất cao. Tuần nào anh ấy cũng hỏi chatbot rằng bệnh của mình có chữa được không. Anh ấy vốn đã biết câu trả lời rồi — điều anh thật sự cần chỉ là được trấn an thường xuyên.
Là một bác sĩ, tôi hơi ngượng khi thừa nhận mình dùng ChatGPT. Nhưng mỗi lần tương tác với những công cụ A.I. y khoa chuyên nghiệp như OpenEvidence, tôi lại thấy lạnh lẽo và vô cảm. Nó đối xử với tôi như một hồ sơ bệnh án, chứ không phải một con người có sở thích và thói quen riêng.
Tôi nhận ra điều đang khiến tôi bị ChatGPT thuyết phục không phải là khả năng đọc hàng loạt nghiên cứu mới nhất hay chẩn đoán bệnh tật, mà là sự đồng cảm không đổi, những lời động viên bền bỉ, sự kiên nhẫn vô hạn và sẵn sàng lắng nghe của nó. Nó không phải con người, nhưng có thể mô phỏng được vài phẩm chất mà chúng ta quý trọng nhất trong giao tiếp giữa người với người.
Tôi làm theo lời khuyên của ChatGPT, và khi kết quả xét nghiệm máu cải thiện, nó ghi nhận sự tiến bộ ấy rồi khuyến khích tôi tiếp tục. Có lẽ tôi đã không thay đổi được thói quen — chứ chưa nói đến việc duy trì được chúng — nếu không có những cuộc trao đổi đều đặn ấy. Trước đây tôi chắc chắn đã không làm được.
Một thực tế đáng buồn của nền y học Mỹ hiện nay là bác sĩ không thể nào có mức độ sẵn sàng hỗ trợ gần bằng một chatbot. Và khi hệ thống chăm sóc sức khỏe không thể cung cấp đủ thời gian, sự chú tâm và lòng trắc ẩn, bệnh nhân sẽ tìm chúng ở nơi khác — kể cả từ một cỗ máy mà chúng ta từng nghĩ sẽ không bao giờ có thể “giống con người”.
A.I. có thể không thay thế bác sĩ, nhưng nó sẽ thay đổi điều mà bệnh nhân mong đợi từ bác sĩ. Và giới y khoa cần thích nghi.
Trước khi tôi dùng chatbot cho các vấn đề sức khỏe của chính mình, việc bảo một bệnh nhân “hãy hỏi ChatGPT” là điều không tưởng — hoặc ít nhất là điều tôi cho rằng cực kỳ thiếu trách nhiệm. Nhưng giờ thì tôi không còn chắc nữa.
Trong một số tình huống nhất định, A.I. mang đến điều mà bệnh nhân thật sự cần nhưng ngành y lại khó đáp ứng.
Thực tế là rất nhiều bệnh nhân đã bắt đầu tham khảo A.I. rồi. Các bác sĩ có thể tiếp tục lo sợ hoặc chỉ trích điều đó, hoặc họ có thể tìm cách hỗ trợ bệnh nhân sử dụng các công cụ A.I. cho việc chăm sóc sức khỏe — một cách cẩn trọng, với những giới hạn rõ ràng.
Tôi sẽ không bao giờ bảo bệnh nhân dùng ChatGPT hay Claude để tự chẩn đoán bệnh. Nhưng có lẽ tôi sẽ khuyên họ dùng nó để hiểu rõ hơn về một tình trạng sức khỏe mới, theo dõi các xét nghiệm định kỳ, hoặc biến lời khuyên chung chung kiểu “ăn kiêng và tập thể dục” thành những bước thực tế phù hợp với cuộc sống của họ — như chính tôi đã làm.
Đồng thời, chúng ta cũng cần những cơ chế bảo vệ trong các hệ thống này để ngăn ngừa những tổn hại thực sự từ các lời khuyên nguy hiểm.
Trải nghiệm của tôi với chatbot đã thay đổi cách tôi tương tác với bệnh nhân trong phòng cấp cứu — nơi tôi chỉ có vài phút để ghép nối những mảnh rời về hoàn cảnh của họ. Khi một bệnh nhân cứ lặp đi lặp lại cùng một câu hỏi, tôi cố gắng lắng nghe điều ẩn phía sau nó.
Có thể điều cô ấy cần không phải là thêm thông tin y khoa.

https://www.facebook.com/hphan2029

_____________________________

Sunday, June 14, 2026

Nước Gạo Rang

 Bí Bếp


Tôi tuy cũng đã có chút tuổi, nhưng sức khỏe tổng quát thì còn tương đối “ok Salem”. Chỉ có điều, cái hệ thống tiêu hóa của tôi thì từ nhỏ tới lớn vốn đã chẳng được yên thân cho lắm.

Có lẽ một phần cũng do di chứng của khoảng tám tháng sống trên vùng núi cao, nước độc, ở khu vực “giải phóng” của lòng chảo An Lão, bắc Bình Định, vào năm 1964. Từ nhỏ, tôi đã dễ bị “tháo re” hơn người bình thường, nên chuyện ăn uống lúc nào cũng phải cẩn thận. Ăn thì vẫn ham, nhưng cái bụng có chịu hay không lại là chuyện khác.
Ngoài cái tật dễ bị “Tào Tháo rượt”, tôi còn hay bị ứ hơi, sình bụng. Thành ra trong nhà, trong xe, trong túi xách, lúc nào cũng có sẵn đủ thứ, nào là Alka Seltzer, Tums, Pepto Bismol, Rolaids, đại khái là một kho “cứu viện tiêu hóa” lưu động.
Hôm kia, tự nhiên cái bụng lại nổi loạn ngang hông. Sình bụng, ấm ách, khó chịu, uống thuốc gì cũng không thấy bớt bao nhiêu. Ngay cả lon Coke, theo kiểu “remedy” truyền thống bên Mỹ, cũng chẳng ăn thua. Tôi chịu trận qua đêm, tới sáng mới “thổ tả” được một trận, sau đó mới thấy trong người nhẹ lại chút đỉnh.
Lúc đó tôi chợt nhớ tới món nước gạo rang. Có lần về lại quê nhà, con nhỏ em tôi bị Tào Tháo rượt dữ quá, một người quen liền rang gạo, nấu lấy nước cho nó uống. Vậy mà chỉ một lúc sau, nó hồi sức thấy rõ, cái bụng cũng ổn định lại khá nhanh.
Từ đó, tôi để ý và thỉnh thoảng áp dụng lại cách này mỗi khi hệ tiêu hóa bị “biểu tình”. Cách làm cũng chẳng có gì cầu kỳ. Chỉ cần rang gạo chầm chậm cho tới khi hạt gạo ngả màu vàng nâu, thơm lên, rồi đem nấu với nước như nấu cháo thật loãng. Cho vào chút muối, sau đó uống phần nước gạo rang còn ấm.
Nói cho có vẻ khoa học một chút, gạo trắng vốn là món khá hiền với đường ruột. Nó mềm, lạt, ít xơ, ít dầu mỡ, không cay, không chua, nên trong lúc bao tử và ruột đang làm mình làm mẩy, nó thường dễ chịu hơn nhiều món khác. Gạo cũng tự nhiên không có gluten, và so với một số thực phẩm dễ gây dị ứng như sữa, trứng, đậu phộng, hải sản, hay lúa mì, thì gạo thuộc loại tương đối ít “gây chuyện” hơn với đa số người.
Trong hạt gạo cũng có một số khoáng chất như magnesium, phosphorus, potassium, selenium, manganese, zinc và iron. Dĩ nhiên, không phải nhiều tới mức uống một ly nước gạo rang là thành lực sĩ, hay biến cái bụng yếu thành bao tử cá sấu. Nhưng khi mình vừa bị tháo re, mất nước, mệt người, ruột gan lộn xộn, thì một chút tinh bột dễ tiêu, một chút muối, một chút nước ấm, cộng với cái mùi gạo rang thơm thơm, cũng đủ làm cái bụng bớt phản loạn và con người thấy hồi thần trở lại.
Chỉ đơn giản vậy thôi, vậy mà với riêng tôi, nhiều lần thấy còn dễ chịu hơn cả Tums, Rolaids, Pepto Bismol, hay Alka Seltzer. Dĩ nhiên, bệnh nặng thì phải đi bác sĩ, chứ không nên ôm nồi gạo rang mà “tử thủ”. Nếu tiêu chảy nặng, kéo dài, có sốt, ói liên tục, đi ngoài ra máu, hoặc có dấu hiệu mất nước thì phải lo chữa trị đàng hoàng.
Nhưng trong những lúc bụng dạ chỉ bị trái gió trở trời, người mệt, ruột gan bất ổn, thì một ly nước gạo rang ấm, có chút muối, vẫn là một món dân gian rất hiền, rất rẻ, rất dễ làm, và với riêng tôi, khá hữu hiệu.
Nghĩ cho cùng, dân gian mình nhiều khi không có tên thuốc Tây, không có toa bác sĩ, không có nhãn hiệu quảng cáo rùm beng, nhưng lại có những món rất mộc mạc mà thực tế. Nước gạo rang là một trong những thứ như vậy, không hào nhoáng, không cầu kỳ, nhưng khi cái bụng đang làm mình làm mẩy, nó lại có thể giúp mình thấy đời bớt... chao đảo.

Bí Bếp

https://www.facebook.com/share/p/1B7RRZvhK6/

____________________________________

Saturday, June 13, 2026

Quà vặt tuổi thơ

Trang Nguyên

Cận cảnh một quầy bánh mì 
ở Sài gòn 1970 


Nhớ nhất là món bánh mì thịt ba rọi giá 5 đồng một ổ. Sau bao nhiêu năm cuộc sống có thêm nhiều món ngon vật lạ, lại hỏi mấy thứ quà vặt cỏn con ngày ấy còn ngon không. Ai cũng bảo, ngon quá đi chớ. Nó ngon từ trong nỗi nhớ!

Friday, June 12, 2026

Những mùa World Cup đi qua.


Mới đó mà đã bốn năm kể từ kỳ World Cup 2022 diễn ra tại Qatar. Nhớ lại những ngày cùng nhóm “Những Tháng, Những Ngày” viết bài theo từng trận đấu, với anh Khuê, chị Diễm, Huy và Hiếu. Thời gian trôi nhanh quá. Giờ đây, cánh chim đầu đàn Vũ Đăng Khuê đã đi xa, để lại trong lòng bạn bè và người theo dõi Facebook nhiều thương tiếc. Những bài bình luận của anh, vừa sâu sắc, sắc sảo, vừa hóm hỉnh, tếu táo, vẫn còn đọng lại như một phần ký ức đẹp của mỗi mùa bóng đá.

Thursday, June 11, 2026

Già Ơi !

BS Đỗ Hồng Ngọc (tản mạn)

Có người hỏi vì sao tôi không phải là bác sĩ lão khoa mà lại viết nhiều về… người già; nào Gió heo may đã về, nào Già ơi… chào bạn, rồi Nghĩ từ trái tim… ?". Đúng vậy, tôi chỉ là một bác sĩ nhi khoa, bác sĩ của trẻ con, nhưng sở dĩ viết về người già là bởi trước sau gì mấy nhóc nhỏ mà tôi đã và đang chăm sóc cũng sẽ trở thành một người già, một ngày nào đó !

Wednesday, June 10, 2026

Làm mắm tôm chua Huế không khó

 

Mùa hè vừa qua Tôm chài được khá nhiều, chẳng biết làm gì cho hết nên QN làm mắm tôm. Mắm tôm có cách làm rất đơn giản mà dễ ăn. Ăn với cơm, bún, bánh tráng đều ngon. Nếu được kèm thêm đĩa thịt luộc và ít rau thơm nữa thì hết ý luôn. Gần đây, QN cũng có lượn lờ trên NET tìm hiểu xem có sáng kiến nào mới từ các chị em với hy vọng học hỏi thêm được những cách mới giúp làm món mắm tôm này ngon hơn, dễ hơn? Đúc kết lại tuy mỗi người mỗi kiểu, nhưng cách làm căn bản vẫn như thế này: