Bí Bếp
Hồi còn nhỏ, sống ở miền Trung, tôi ít khi để ý đến các loài chim. Trong trí nhớ chỉ lơ thơ vài cái tên quen tai, chim se sẻ, cò trắng, con quạ đen hay rình bắt gà con, rồi chim sáo, chim nhồng, két, thứ “biết nói tiếng người” khiến bọn con nít tụi tôi vừa sợ vừa mê. Còn chim én thì thiệt tình, tôi chỉ nhớ nó qua văn thơ, chứ nhìn ngoài trời, tôi chẳng phân định được con nào là én, con nào là yến. Nghe người lớn nhắc “én về”, tôi cứ tưởng đó là một thứ dấu hiệu huyền diệu lắm, kiểu như trời vừa đổi gió là mùa xuân rón rén bước vô sân.
Lớn lên một chút, đọc Truyện Kiều, chữ “én” mới thật sự có hình, có bóng, có nhịp. Nguyễn Du chỉ cần một câu thôi mà khiến tôi thấy mùa xuân bay qua trước mắt, nhanh như thoi đưa, nhẹ mà gấp, đẹp mà vội,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.”
Đọc tới đó, tôi hiểu ra, én trong thơ không chỉ là một con chim, nó là nhịp thời gian. Nó bay qua không xin phép, mà cũng chẳng hẹn ngày về, chỉ để lại phía sau một khoảng bâng khuâng, như đứng trước thềm nhà mà nghe tết đã tới, dù trong tay chưa kịp nắm gì.
Rồi đời đưa tôi đi xa, về sau lại có dịp trở lại quê nhà, và tôi gặp một “mùa chim” khác, không còn ở trong sách. Ở xứ mình, người ta nuôi yến lấy tổ gần như đại trà, thế là yến hầu như có ở khắp nơi. Tiếng chích chích của chúng, nghe riết cũng quen, nhưng nhiều lúc lại khá khó chịu, nhất là khi người nuôi dùng máy khuếch đại tiếng chim để dụ đàn về. Thế là giữa vùng quê, hoặc ngay trong mấy xóm nghèo, bỗng mọc lên những căn nhà bê tông kín bưng, nom kiên cố, bệ vệ, cửa nẻo như dành cho một “thế giới” riêng, bên trong tối mờ, mát lạnh, chỉ để chim ra vô, làm tổ, đẻ trứng, rồi người vào thu hoạch.
Chính lúc đó tôi mới thấy mình cần nói cho rõ, kẻo lại lầm, vì đời sống bây giờ làm cái chữ “yến” trong đầu mình đổi nghĩa đi ít nhiều. Én là thứ chim hay liệng thấp, đuôi chẻ sâu, thỉnh thoảng đậu dây điện, mái hiên, làm tổ bằng bùn dưới mái nhà. Còn yến mà người ta nuôi lấy tổ, lại bay vút nhanh, cánh dài cong như lưỡi liềm, chân yếu, ít khi chịu đậu kiểu én, và làm tổ bằng thứ keo nước bọt bám lên vách, lên trần. Hai loài nhìn thoáng qua thì đều “nhỏ, bay nhanh”, nhưng coi kỹ sẽ thấy khác nhau một trời một vực.
Còn “nhạn” lại là một chữ dễ làm người ta rối. Trong cách nói bình dân, nhiều khi người ta gọi trơn “én”, thế là xong. Nhưng trong văn chương Hán Việt, “nhạn” thường gợi tới ngỗng trời, chim lớn, bay đàn, bay thành hàng, mang theo chuyện “nhạn tín”, thư từ, tin tức. Trong khi đó, có lúc chữ nghĩa lại lắt léo, “nhạn, yến” được dùng như một cặp hình ảnh cho chim chóc, cho đổi thay, cho tháng năm qua lại. Truyện Kiều cũng có câu,
“Gần xa nô nức yến anh.”
Vậy nên, nếu không để ý, mình dễ mang cái “yến sào” ngoài đời mà gắn vô “yến anh” trong thơ, rồi thấy mọi thứ lệch nhịp. Thơ thì dùng chữ để gợi, để vẽ, để thắp một mùa lên trong lòng, còn đời thì dùng tiếng loa để dụ chim về làm tổ trong bê tông. Nghĩ tới đó, tôi vừa mắc cười, vừa thấy buồn cười cũng không hết buồn.
Dẫu vậy, trong văn hóa người mình, chim én vẫn có một chỗ đứng rất riêng. Én là biểu tượng của mùa xuân, của may mắn, của hòa bình. Én về là báo hiệu tết, báo hiệu tuổi trẻ, niềm vui, hy vọng. Trong tranh vẽ, bích họa, trong câu đối ngày xuân, hình dáng én thường đi với hoa mai, hoa đào, như một dấu hiệu quen thuộc, dịu dàng, rằng mùa mới đã về thật rồi, không còn là chuyện đồn.
Tôi nhớ câu “một cánh én không làm nên một mùa xuân”, ai cũng thuộc. Nhưng tôi lại nhớ thêm một câu nói khác, của anh Y Rick, ông anh người Rha Đê mà tôi từng sinh hoạt chung hồi ở Rochester, Mn, một thành phố lạnh lẽo bên Mỹ. Anh em tôi từng ngồi nói chuyện cộng đồng, chuyện làm việc chung, chuyện bị người ta bàn ra, chuyện bị người ta chê cười, rồi tự dưng anh nói tỉnh queo, cánh én tuy không làm nổi một mùa xuân, nhưng nó luôn mang hình ảnh của mùa xuân. Nghe vậy, tôi bật cười, mà trong lòng lại ấm. Thế là bất chấp bao luận điểm tiêu cực, bao thứ “bàn ra”, hễ việc chung, việc vô tư lợi, thì cứ xắn tay áo lên mà làm. Ai tham gia thì cùng làm, ai không tham gia thì thôi, mình không vì vậy mà bẻ lái. Nhiều năm trôi qua, mỗi người một nơi, câu nói ấy vẫn còn văng vẳng trong tôi, như một tiếng gõ nhẹ vào trí nhớ mỗi khi mình muốn chùn bước.
Rồi chiều nay, ở xứ Mưa, tôi ngồi nhớ chuyện xưa. Qua cửa sổ, mặt trời đang xuống, ánh vàng rớt chậm trên mái nhà, ngoài trời có vẻ ấm hơn đôi chút sau ngày diễn hành ăn mừng chiến thắng, đường phố mới hôm qua còn rộn ràng, hôm nay trở lại cái yên lặng quen thuộc của Seattle. Tôi gắng tìm xem có con “én là đà” nào không, chỉ cần một cái bóng lướt qua cũng đủ cho lòng bớt trống. Nhưng nhìn quanh, ngó dọc, ngó vắn, chẳng thấy ẻm nào cả, cũng chẳng ngạc nhiên, vì én thường xuôi nam theo đàn để trốn lạnh. Xứ Mưa còn lạnh, làm sao thấy én.
Thôi thì tạm cứ nhớ én trong tâm, như mình nhớ tết quê hương của một thuở nào. Én không hiện ra ngoài trời, nhưng cái “én đưa thoi” thì vẫn bay trong trí nhớ, nhắc khẽ rằng mùa xuân, dù ở đâu, cũng bắt đầu từ một niềm tin nhỏ, và từ một người chịu làm trước, lặng lẽ như một cánh én.
________________________________





.jpg)

