Thursday, May 21, 2026

LOÀI CHUỘT KHỔNG LỒ NÀY ĐANG ĐE DỌA NƯỚC MỸ..

 ĐẾN NỖI CHÍNH PHỦ PHẢI "TRUY NÃ", THƯỞNG TIỀN VÀ KHUYẾN KHÍCH NGƯỜI DÂN ĂN THỊT CHÚNG


Nutria là tên một loài gặm nhấm thuộc họ chuột gai có danh pháp khoa học là Myocastor coypus.

Những con chuột này không chỉ là bữa ăn miễn phí, bạn vừa có thể ăn chúng, lại vừa kiếm được tiền.

"Các loài động vật xâm lấn [như chuột Nutria] đang chèn ép động vật hoang dã bản địa, hủy hoại môi trường sống và tàn phá hệ sinh thái", Erin Huggins, người phát ngôn của cơ quan Chính phủ Mỹ cho biết.

"Nhưng thay vì chỉ phàn nàn về chúng, hãy đưa chúng vào menu. Bằng cách ăn thịt các loài này, chúng ta sẽ giảm được số lượng và hạn chế các thiệt hại mà chúng gây ra cho hệ sinh thái, đồng thời bảo vệ được quần thể động vật hoang dã địa phương".

Trong trường hợp bạn chưa biết chế biến thịt chuột Nutria như thế nào, đừng lo lắng, FWS có hẳn một trang web gợi ý các công thức làm thịt chuột mà bạn có thể thử từ món hầm, làm súp, cho đến chuột xào ớt chuông.

"Thịt của chúng rất nạc, mềm và có vị như thịt thỏ", Huggins cho biết.

Nhưng dù bạn có ý định chế biết thịt chuột Nutria thành món gì đi chăng nữa, hãy chú ý một điều: Giữ lại chiếc đuôi khổng lồ của nó và gửi đến Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ. Ở đó, họ đang có chương trình treo thưởng 6 USD, tương đương 153.000 VNĐ, cho mỗi chiếc đuôi chuột Nutria mà bạn bắt được.



Vì vậy, những con chuột này không chỉ là bữa ăn miễn phí, bạn vừa có thể ăn chúng, lại vừa kiếm được tiền. Tất cả là bởi…

Chuột Nutria đang bị "truy nã" trên toàn nước Mỹ
Nutria là một loài gặm nhấm thuộc họ chuột gai có danh pháp khoa học là Myocastor coypus. Vốn là một loài bán thủy sinh chỉ sống ở Nam Mỹ, nhưng vài thập kỷ nay, chuột Nutria lại trở thành nỗi ác mộng sinh thái ở Hoa Kỳ.

Mọi chuyện bắt đầu từ cuối thế kỷ 19, sau khi một thương nhân nào đó có ý tưởng nhập khẩu loài chuột nước này vào Mỹ để nuôi lấy lông. Chuột Nutria đã phục vụ ngành công nghiệp áo lông thú ở quốc gia này trong nhiều thập niên, trước khi chúng tìm được đường trốn thoát khỏi các trang trại nuôi thú tập trung và trở thành một loài hoang dã xâm lấn.



Chỉ một cặp chuột Nutria duy nhất trong một năm có thể sinh tối đa 793 hậu duệ.

Chỉ một cặp chuột Nutria xuất hiện ngoài môi trường đã trở thành vấn đề, bởi loài gặm nhấm này có tốc độ sinh sản cực kỳ siêu việt. Một con chuột cái có thể mang thai tới 3 lần trong 1 năm. Mỗi lần, chúng đẻ trung bình từ 4 đến tối đa 13 con. Tính ra, một cặp chuột Nutria có thể đẻ từ 12 đến tối đa 39 con non trong một năm.

Những con non này cai sữa mẹ chỉ sau 7 tuần, và đạt tới độ trưởng thành trong vòng 3-4 tháng thay vì một năm như các loài động vật khác. Chuột mẹ có thể vừa nuôi con và vừa giao phối để thụ thai lứa tiếp theo chỉ 1 ngày sau khi sinh.

Như vậy, những con chuột con ở lứa đầu tiên đã có thể sinh sản cùng với mẹ mình ngay từ chu kỳ thứ 2. Chúng sẽ đẻ ra từ 16 đến 169 chuột cháu.

Những con chuột cháu này tiếp tục chỉ mất 3-4 tháng để đẻ tiếp thế hệ chuột chắt tiếp theo, từ 64-676 con. Quá trình này song song với chuột Nutria con thế hệ thứ ba, tiếp tục đẻ ra 12-39 chuột cháu non nữa.

Tính ra, chỉ một cặp chuột Nutria duy nhất trong một năm có thể sinh tối đa 793 hậu duệ, bao gồm 52 con, 234 cháu và 507 chắt về mặt lý thuyết. Nếu tính con số trung bình trong vòng đời 3 năm, chúng có thể đẻ 2.356 hậu duệ, với 36 con, 288 cháu, 592 chắt, 704 chút và 736 chít.

Đó là lý do tại sao loài sinh vật này chỉ mất 20 năm, kể từ khi xuất hiện ở tiểu bang Louisiana vào năm 1930, để nhân lên thành một quần thể 20 triệu con. Đỉnh điểm trên mỗi 1 km vuông đầm lầy ở Louisiana, người ta có thể tìm thấy hơn 2.300 con Nutria.

Và đó mới chỉ là con số tính riêng cho một tiểu bang ở Mỹ, từ hơn 70 năm trước. Bây giờ, loài chuột này đã xuất hiện ở 30/50 tiểu bang của Hoa Kỳ, sinh sôi trên cấp độ quần thể ở 16 tiểu bang, từ vùng duyên hải Vịnh Mexico đến bờ Thái Bình Dương và Đông Bắc Đại Tây Dương.

Với tốc độ sinh sản kỷ lục, khả năng thích nghi đáng kinh ngạc và thiếu thiên địch trong tự nhiên, chuột Nutria hiện được coi là một trong những loài xâm hại nguy hiểm nhất nước Mỹ.

Nhưng rốt cuộc, chúng nguy hại thế nào?
Một con chuột Nutria bơi dưới nước có thể trông giống một con capybara, với cái đầu to, hai mắt, hai tai và lỗ mũi đều ở trên đỉnh đầu để quan sát và hít thở. Nhưng bạn đừng để vẻ ngoài đáng yêu đó của nó đánh lừa.

Ngay khi bước lên cạn, loài chuột nước này sẽ lộ nguyên hình là một kẻ phản diện đích thực. Trông chúng như một con chuột cống khổng lồ.



Nutria có thể nặng tới 17 kg, nghĩa là gấp 30 lần cân nặng của những con chuột cống to nhất.


Với kích thước cơ thể trung bình khoảng 40-60 cm, chưa tính 45 cm chiều dài đuôi, một con Nutria có thể nặng tới 17 kg, nghĩa là gấp 30 lần cân nặng của những con chuột cống to nhất.

Sống ở các khu vực ngập nước, chuột Nutria thường ăn thực vật thủy sinh như cỏ nước, lau, sậy. Nhưng một khi lọt được vào khu vực nông nghiệp của con người, chúng sẽ ăn cả ngô, mía và lúa mì.

Một con Nutria cần một lượng thức ăn tương đương ¼ trọng lượng cơ thể chúng mỗi ngày. Nghĩa là chúng có thể ăn tới 4 kg thực vật. Oái oăm ở chỗ, loài chuột nước này lại chỉ thích ăn rễ cây. Một khi chúng đào bật rễ cây lên để ăn, cả cái cây đó sẽ chết.

Mức độ tàn phá sinh khối thực vật của một con Nutria vì vậy tăng lên gấp 10 lần lượng thực vật mà chúng thực sự ăn. Các nhà khoa học cho biết ở những khu vực mà Nutria xuất hiện, ít nhất 40% thảm thực vật sẽ bị phá hoại.




Nutria chỉ thích ăn rễ cây. Một khi chúng đào bật rễ cây lên để ăn, cả cái cây đó sẽ chết.

Khi thảm thực vật bị phá hủy với tốc độ nhanh, đất đai mất đi lớp rễ cây giữ chặt sẽ trở nên dễ bị xói mòn và sạt lở, đặc biệt ở những vùng đất ngập nước hoặc ven sông. Điều này sẽ làm mất môi trường sống của nhiều loài động vật khác, từ côn trùng, chim chóc đến các loài thủy sinh, gây rối loạn cân bằng sinh thái.

Lấy ví dụ, ở khu bảo tồn sinh thái Blackwater National Wildlife Refuge ở Maryland, chuột Nutria đã xâm chiếm khoảng 2.832 ha đất ngập nước, nơi từng là nơi sinh sống của các loài chim nước bản địa như vịt đen Mỹ (Anas rubripes).

Số liệu từ Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ cho thấy quần thể vịt đen ở đây đã suy giảm tới 50% từ năm 1930 đến 1990 sau sự xuất hiện của chuột Nutria.

Tương tự tại vùng đồng bằng Sacramento-San Joaquin ở California, từ năm 2018, chuột nutria phá hủy 25% thảm thực vật ven đê, làm suy yếu môi trường sống của các loài cá bản địa như cá hồi Chinook (Oncorhynchus tshawytscha), vốn đã giảm 80% quần thể từ năm 1980.

Quần thể chuột xạ hương (Ondatra zibethicus), một loài gặm nhấm bản địa ở Louisiana, cũng đã bị suy giảm 30% vì sự xuất hiện của Nutria. Trên thực tế, loài chuột ngoại lai này thường cướp hang của chuột xạ hương bản địa và đẩy chúng vào cảnh không nhà.

Và bởi chuột Nutria to gấp rưỡi chuột xạ hương, hang của chúng cũng to và sâu gấp rưỡi loài chuột bản địa này.

Hậu quả là sau khi cướp nhà của chuột xạ hương, chuột Nutria sẽ đào chúng ra thành những chiếc hang khổng lồ, rộng tới 30 cm và dài tới 15 mét. Cá biệt, có những hang chuột Nutria dài tới 45 mét đã được xác nhận ở một số khu vực.

Việc hang của chuột xạ hương bị thay thế bởi hang Nutria đã khiến hệ thống cơ sở hạ tầng như đê điều, mương thủy nông, kè sông và đường sá ở Mỹ vốn không được chuẩn bị cho tình huống này bị suy yếu. Nutria đe dọa cả móng nhà và bến tàu ở các khu vực đất ngập nước mà chúng sinh sống.

Ước tính mỗi năm, loài động vật này gây ra thiệt hại lên tới hàng chục triệu USD cho hoạt động kinh tế, nông nghiệp và cơ sở hạ tầng ở các tiểu bang Hoa Kỳ. Đó là chưa kể đến những thiệt hại to lớn, vĩnh viễn và không thể đong đếm được trên hệ sinh thái mà sự xâm lấn của loài động vật ngoại lai này gây ra.

Thưởng tiền cho thợ săn chuột Nutria, khuyến khích người dân ăn thịt chúng
Để chống lại cuộc xâm lược của loài chuột khổng lồ này, từ năm 2002, bang Louisiana đã triển khai một chương trình tiễu trừ Nutria trên diện rộng. Ban đầu, họ sử dụng các loại bẫy mồi đơn giản để bắt Nutria. Nhưng khi số lượng quần thể loài chuột này tăng lên, bẫy mồi đã không còn tác dụng đáng kể.

Chính quyền tiểu bang sau đó chuyển sang đánh bả chuột Nutria trên diện rộng bằng các bè chứa thức ăn được ngâm trong kẽm photphua, một loại thuốc diệt chuột đắt tiền. Vấn đề là kẽm photphua có thể tiêu diệt cả các loài chuột bản địa khác và hóa chất này cũng độc hại khi tồn tại lâu trong môi trường.

Đây là lúc ý tưởng treo thưởng cho các thợ săn chuột được tính đến.



Dưới sự hậu thuẫn của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, Sở Động vật hoang dã và Thủy sản Louisiana đã đưa chuột Nutria ra khỏi danh sách động vật hoang dã, vốn bị cấm săn bắn. Thay vào đó, họ còn cấp phép và khuyến khích các thợ săn diệt trừ loài chuột xâm lấn này. Mỗi chiếc đuôi chuột Nutria thu thập được, các thợ săn sẽ được thưởng 4 USD. Số tiền thưởng thập chí còn tăng lên 6 USD từ năm 2007.

Kết quả của chương trình treo thưởng rất đáng kích lệ khi ngay trong năm đầu tiên, 2002-2003, đã có hơn 300.000 con Nutria đã bị tiêu trừ. Hơn 1,2 triệu USD tiền thưởng đã được giải ngân.

Đỉnh điểm trong mùa 2009-2010, hơn 445.000 chiếc đuôi chuột Nutria đã được thu thập, giải ngân khoản tiền thưởng hơn 2,2 triệu USD cho các thợ săn.

Chính quyền Louisiana ban đầu không quan tâm đến việc các thợ săn Nutria sau khi chặt đuôi Nutria sẽ làm gì với thịt của nó. Nhưng có một công ty đã được thành lập ở tiểu bang này chuyên đi thu mua thịt chuột Nutria để chế biến thành thức ăn cho chó.

Một thợ săn chuột Nutria.

Năm 2012, công ty có tên là Marsh Dog đã được trao giải thưởng "Doanh nghiệp bảo tồn môi trường của năm", vì ý tưởng tận dụng loại protein từ thịt chuột Nutria một cách bền vững.

Các thợ săn Nutria từ đó có thể thu thập đuôi chuột để kiếm tiền thưởng, bán thịt chuột cho công ty sản xuất thức ăn thú cưng, và họ còn có thể quên góp lông của chúng cho Righteous Fur, một tổ chức phi lợi nhuận chuyên thu thập lông Nutria để giới thiệu nó trở lại ngành thời trang lông thú, trước đây từng bị lên án mạnh mẽ vì góp phần đẩy nhiều loài động vật có lông vào nguy cơ tuyệt chủng.

Righteous Fur, đúng như tên gọi của nó là "Lông thú chính nghĩa", muốn kết hợp việc sử dụng lông Nutria vào việc giáo dục công chúng về các giải pháp bảo vệ môi trường bền vững, tập trung vào các vùng đất ngập nước mà Nutria đang tàn phá.



Chuột Nutria được đem vào Mỹ từ thế kỷ 19 để phục vụ ngành thời trang lông thú
.

Trong một nỗ lực gần đây nhất để kiếm soát chuột Nutria, Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ (FWS) đã đưa loài động vật này vào một "menu" 5 loài động vật xâm lấn mà con người có thể ăn để bảo vệ môi trường.

Họ đang cố gắng thuyết phục người dân Mỹ ăn thịt chuột Nutria vì thịt của loài vật này "rất nạc và ngon". Phân tích thành phần cho thấy thịt Nutria chứa tới 25% protein, trong khi rất ít chất béo, chỉ khoảng 3-5% so với 20% béo ở thịt bò. Ngoài ra, thịt Nutria còn chứa nhiều khoáng chất như sắt và kẽm rất tốt cho sức khỏe.

Để tăng thêm phần hấp dẫn cho chiến dịch kêu gọi, cơ quan chính phủ Mỹ từng mời một số đầu bếp nổi tiếng sáng tạo ra các món ăn từ thịt chuột Nutria như món súp gumbo, xúc xích, thịt hầm. Những đầu bếp cũng xác nhận vị thịt của loài chuột này về cơ bản ngọt và ngon như thịt thỏ. Nó cũng có vị giống thịt gà và mọi người đều có thể ăn được.



Mặc dù vậy, nhiều người dân Mỹ vẫn thờ ơ với lời kêu gọi ăn thịt chuột Nutria của FWS. Các khảo sát cho thấy phần lớn họ không thoát được khỏi so sánh Nutria với một con chuột khổng lồ, loài vật mà trong văn hóa Phương Tây vốn bị kinh sợ và họ không có truyền thống ăn thịt chúng.

Thanh Long 

___________________________

Wednesday, May 20, 2026

“Nhớ cà phê là nhớ cái chỗ ngồi”

Lê Hoàng Diệp Thảo

Từng có bài báo của một người nước ngoài nhận xét về phong cách uống cà phê của người Sài Gòn : “Người dân thành phố, ‘ngồi cà phê’ với nhau, không nhìn nhau mà cùng… nhìn ra đường”.

Tôi mê cà phê từ nhỏ. Ngồi cà phê với bạn thời trung học, rồi đến bạn đại học, rồi đến bạn đi làm. Chỗ nào có quán cà phê “hay hay” là có mặt tôi. Với kinh nghiệm của người ghiền cà phê, tôi biết chắc nhận xét trên là đúng. Chính tôi cũng chưa bao giờ ngồi đối diện bạn mình, mà luôn cùng xoay mặt ra đường.

Cà phê, với người Sài Gòn, không phải là nước giải khát. Thật tình, chẳng ai uống cà phê để giải khát cả. Uống cà phê là vì ghiền. Ghiền không khí quán; ghiền chỗ ngồi trong quán. Ghiền như tâm tư của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn : “Chiều nay em ra phố về / thấy đời mình là những quán không / bàn im hơi bên ghế ngồi…”.

Cà phê, thức uống Tây Phương, vào đến Sài Gòn kết hợp với phong cách người thành phố, mang một bản sắc đặc biệt, gần như một thứ văn hóa.

Cà phê Sài Gòn, với dân sành điệu, phải là quán cóc nơi vỉa hè. Quán cóc vỉa hè là nơi gần nhất với dòng chảy cuộc sống. Ngồi quán cóc, người cà phê “vừa gần vừa xa” với cuộc đời. Ở trong cuộc sống nhưng vẫn có một góc riêng tư. Ngồi quán cóc, vẫn là ngồi không đối diện, cùng nhìn ra con đường chỉ cách vài thước tây trước mặt.

Còn nhớ thời trẻ, chỉ vì thích được ngắm thành phố lúc bình minh, tôi hay thức giấc lúc 5, 6 giờ sáng, để đi cà phê vỉa hè. Có lần, đang ngồi một mình nhìn bâng quơ ra phía trước, nghe cụ già bàn bên cạnh nói trống không : “Buổi sáng không lo ngủ, cứ chạy tới, chạy lui”. Tưởng ông già nói mình, ông lại chỉ tay qua bên kia đường : Có con chó đang tinh nghịch chạy lên chạy xuống, chơi đùa trên đống cát xây dựng. Có lẽ ông cụ muốn khơi mào câu chuyện để làm quen. Cà phê vỉa hè là nơi người ta dễ bắt chuyện, cho dầu chỉ là những câu chuyện bâng quơ. Lúc chia tay, ông già lại nói : “Uống một chỗ lâu cũng nhớ. Không phải nhớ cà phê đâu. Là nhớ cái chỗ ngồi đó...”.

Không gian cà phê đôi khi còn là chứng nhân của những kỷ niệm trong đời. Người anh họ của tôi, nay đã ngoài 60, là một chứng nhân như vậy. Anh từng là sinh viên Đại Học Huế hồi cuối thập niên 1960, đầu 1970. Anh kể, điều thú vị nhất ở Huế là đi uống cà phê sáng khi trời mưa. Ở Huế, mưa là mưa kéo dài cả ngày. Mưa là mưa như cầm chĩnh đổ. Sáng sáng, bỏ giờ học đầu ngày, chạy vội đến quán cà phê trong căn biệt thự quen, uống cà phê, nhìn mưa rơi, và hy vọng ! Hy vọng điều gì ? Hy vọng hôm nay đài phát thanh sẽ phát một bản nhạc mới của Trịnh Công Sơn. Không biết bao nhiêu sinh viên Huế, Sài Gòn, Đà Nẵng… từng lần đầu nghe các bản tình ca của Trịnh Công Sơn trong cử cà phê sáng, giữa cơn mưa ? Một Diễm Xưa, một Tuổi Đá Buồn, một Phôi Pha…

Không chỉ ở Huế, người Sài Gòn cũng mê được uống cà phê giữa cơn mưa tầm tã. Nhớ một buổi chạng vạng, nghe tiếng gọi tên mình trước cửa nhà. Ra mở cửa thì thấy đứa bạn thân trong lớp. Nhà bạn ở tận Thủ Đức, nhà tôi ở mãi Quận 5. Thấy tôi, bạn chỉ hất nhẹ đầu : “Cà phê !”. Thế là cả hai leo lên xe đạp, ra quán cà phê. Thì ra, bạn đoán tối nay mưa lớn nên hối hả đạp xe từ Thủ Đức đến nhà tôi. Đạp nhanh, cho kịp cơn mưa, cho kịp ly cà phê với thằng bạn thân.

Tôi nay sang Mỹ sống đã hơn 20 năm rồi. Nhớ những ngày đầu nơi đất mới, không thể chịu nổi chuyện vừa cầm ly cà phê, vừa đi, hay vừa lái xe, vừa uống. Sau 20 năm, mới thấy “nhập gia tùy tục,” thói quen nào cũng có thể thay đổi. Nhưng kỷ niệm thì không phai nhạt. Kỷ niệm đôi khi như bản năng; gặp đúng cảnh, đúng người, lại hiện về rõ mồn một. Đi chơi đâu, hễ thấy khu phố hơi cổ một tí là tôi lại tìm quán cà phê. Phố cổ, hay phố nghèo thường có quán cà phê lề đường. Cà phê lề đường thỉnh thoảng vẫn thấy ở xứ Mỹ. Nhưng cái cách người ta ngồi thì vẫn… rất Mỹ. Người Mỹ không ngồi nhìn ra đường. Họ ngồi đối diện, trò chuyện thầm thì với nhau.

Mỗi khi gặp quán cà phê lề đường ở nước Mỹ này, tôi lại nhớ lời ông già “than phiền” chuyện con chó không chịu ngủ hồi 30 năm trước : “Nhớ cà phê là nhớ cái chỗ ngồi”.

Lê Hoàng Diệp Thảo

Biết ơn từ những điều giản dị ..

Làm đêm trong bệnh viện nhiều năm rồi… mình bắt đầu nhìn cuộc sống khác đi rất nhiều.

Có những đêm đang yên bình, bỗng tiếng báo động vang lên… mọi người chạy vội trong im lặng. Không ai nói nhiều, nhưng ai cũng hiểu có thể một cuộc đời đang đứng giữa ranh giới rất mong manh.

Làm trong bệnh viện mới thấy… đời người thật sự không dài như mình vẫn nghĩ.

Có những người sáng còn khỏe mạnh đi làm, chiều đã nằm trên giường bệnh. Có người hôm qua còn ăn cơm với gia đình, hôm nay người thân chỉ biết đứng ngoài hành lang khóc trong bất lực.

Những lúc như vậy… mình mới hiểu rằng:

Tiền bạc rất quan trọng. Công việc cũng rất quan trọng. Nhưng sức khỏe và những người mình thương bên cạnh vẫn là thứ quý giá nhất trong cuộc đời này.

bệnh viện ban đêm… mọi cảm xúc của con người đều rất thật.

Không ai còn quan tâm ai giàu hơn ai. Không ai còn để ý xe đẹp hay nhà lớn. Đứng trước bệnh tật và sinh tử… điều người ta cầu mong nhất vẫn chỉ là hai chữ “bình an”.

Đi làm đêm lâu rồi… mình cũng thay đổi rất nhiều.

Mình không còn thích hơn thua nữa. Không còn muốn giữ những chuyện nhỏ để giận lâu. Không còn thấy vật chất là thứ quan trọng nhất.

Vì mình hiểu… có những người hôm nay còn gặp được nhau, nhưng chưa chắc ngày mai còn cơ hội để nói thêm một câu.

Nhiều lúc tan ca gần sáng, bước ra khỏi bệnh viện thấy trời còn tối… đường phố yên lặng. Chạy xe về nhà, tự nhiên thấy biết ơn những điều rất bình thường mà trước đây mình từng xem là hiển nhiên:

Được khỏe mạnh để đi làm. Được ăn một bữa cơm nóng. Được nghe tiếng người thân trong nhà. Được ôm người mình thương sau một ngày dài.

Và còn được chơi tennis, pickleball… được chạy ngoài sân dưới ánh nắng, được cười đùa với bạn bè sau những ngày làm việc căng thẳng.

Còn được đi travel, được nhìn thấy những nơi mới, được hít thở không khí của một thành phố xa lạ, được tạo thêm những kỷ niệm đẹp với người mình thương.

Những điều đó ngày xưa mình từng nghĩ là “bình thường”… nhưng làm trong bệnh viện lâu rồi mới hiểu:

Không phải ai cũng còn đủ sức khỏe để làm những điều giản dị đó.

Có những người chỉ mong được tự đứng dậy đi bộ lại bình thường. Có những người chỉ mong có thêm thời gian ở cạnh gia đình. Có những người chỉ mong thêm một cơ hội để được sống tiếp.

Nên càng chứng kiến nhiều… mình càng học cách biết ơn cuộc sống hơn.

Biết ơn vì hôm nay mình còn khỏe mạnh. Còn được làm điều mình thích. Còn được gặp người mình thương. Còn được sống một cuộc đời bình thường nhưng bình an.

Sau tất cả… mình nhận ra:

Hạnh phúc thật sự đôi khi không nằm ở những điều quá lớn lao.

Mà là sau một ca trực dài trong bệnh viện… mình vẫn còn có nơi để về, có người để thương, có sức khỏe để chơi thể thao, đi du lịch, cười nói… và tiếp tục sống thêm một ngày thật ý nghĩa.

Thông Nguyễn

https://www.facebook.com/share/p/17QEBfiYTt/?mibextid=wwXIfr

___________________________


Tuesday, May 19, 2026

Ngồi Cà Phê Quán

Trương Hữu Hiền 

Không ai biết thời gian sẽ giữ lại điều gì, và sẽ cuốn trôi điều gì khỏi ký ức của mỗi con người. Nhưng có lẽ khó phủ nhận được là đời sống rốt cuộc cũng chỉ là sự tích lũy của những lần gặp gỡ. Có những cuộc gặp dài lâu, có những cuộc gặp ngắn ngủi, cũng có những cuộc gặp chỉ thoáng qua như một ánh mắt vô tình chạm nhau giữa phố.
Và tôi thường nghĩ rằng, mỗi dân tộc, mỗi nền văn hóa, cách con người níu giữ hay kéo dài những cuộc gặp gỡ phần nào phản chiếu cách họ đối diện với thân phận và với nỗi cô đơn sâu kín trong chính mình.

Hãy thử quan sát cách người Mỹ gặp gỡ nhau. Khi tình cờ gặp bạn bè hay người quen, họ thường rủ nhau vào một quán ăn gần đó, trò chuyện rôm rả, nhắc lại vài kỷ niệm cũ, chia sẻ đôi điều về cuộc sống hiện tại, rồi sau bữa ăn lại đứng dậy chia tay. Tất cả diễn ra mạch lạc, gọn ghẽ như một bản nhạc pop: có mở đầu, có cao trào, rồi khép lại đúng lúc.
Dường như trong văn hóa Mỹ, tinh thần độc lập cá nhân được đề cao đến mức cô đơn đôi khi trở thành một phần tự nhiên của quá trình trưởng thành. Họ không phủ nhận sự cô đơn, nhưng thường học cách chung sống với nó bằng nhịp sống bận rộn và sự dịch chuyển không ngừng. Đó có thể là biểu hiện của sức mạnh nội tại, nhưng đôi khi cũng là một cách để né tránh, để không phải dừng lại quá lâu trước những khoảng trống sâu thẳm trong tâm hồn.

Người Nhật lại khác. Những cuộc gặp của họ thường dẫn vào các quán izakaya, nơi chén rượu, làn khói thuốc và những câu chuyện có thể kéo dài như một chuyến tàu đêm chưa rõ ga cuối. Khi men rượu thấm dần, áo vest được cởi bỏ, cà vạt nới lỏng, và cùng với đó, những khuôn phép nghiêm ngặt của đời sống thường nhật cũng tạm thời lơi ra.
Ẩn dưới vẻ ngoài trật tự và chuẩn mực của xã hội Nhật Bản là một đời sống tinh thần chịu nhiều áp lực, nơi con người không dễ dàng bộc lộ cảm xúc thật, ngay cả với những người thân cận nhất. Vì thế, họ tìm đến những không gian tạm bợ ấy như một cách giải phóng bản thân, dù chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi. Họ không phủ nhận cô đơn, mà chọn cách tạm thời làm dịu nó bằng những giờ phút được mềm yếu hơn, trước khi trở lại với guồng quay quen thuộc.
Còn người Việt thì sao?
Ít nhất, trong nhiều thế hệ mà tôi biết, chúng ta thường chọn một quán cà phê ven đường. Một lời rủ “đi cà phê” có thể kéo dài suốt cả buổi chiều, thậm chí nếu cần, là cả một phần đời tuổi trẻ. Bởi cà phê, từ lâu với chúng ta chưa bao giờ chỉ đơn thuần là một thức uống. Nó là cái cớ để con người ở lại bên nhau. Ở lại với những câu chuyện cũ, với những trăn trở hiện tại, và cả những gì chưa kịp xảy ra.
Người Việt có thể không cố tìm cách giải quyết tận cùng nỗi cô đơn, nhưng dường như chúng ta biết cách làm cho nó dịu bớt. Bằng sự gần gũi, bằng những cuộc trò chuyện không vội vã, và bằng cảm giác rằng, giữa cuộc đời nhiều bất trắc này mình vẫn còn có ai đó để ngồi cùng.
Rốt cuộc, mỗi dân tộc đều mang trong mình những hình thức cô đơn riêng, được hình thành từ cấu trúc xã hội và bản sắc văn hóa của họ. Người Mỹ chọn sự độc lập để chế ngự cô đơn. Người Nhật tìm những khoảng giải tỏa ngắn ngủi để tạm quên cô đơn. Người Việt kéo dài sự hiện diện bên nhau để làm nhẹ bớt cô đơn.
Không có phương thức nào hoàn toàn đúng hơn phương thức nào. Mỗi nền văn hóa, sau cùng, chỉ đang cố tìm cho mình một lối đi riêng để con người có thể tiếp tục sống, tiếp tục bước tới, và học cách chịu đựng khoảng trống vốn là điều không thể tránh khỏi trong thân phận làm người.
Ly cà phê và người viết
Từ thời rất nhỏ, khoảng trên dưới mười tuổi tôi đã biết chạm môi vào nó.
Có những buổi sáng, ba đưa tôi theo đến một quán nước bình dân trong chợ Cồn. Đó là một căn “nhà dù” trong vài chục căn dựng lên từ khi thành lập chợ. Quán cà phê của ông Xướng, gọi theo thói quen giản dị là “cà phê Xướng.” Nghe đâu, ông từng là một cựu sĩ quan quân đội miền Nam giải ngũ. Ông gầy, điềm đạm, và lúc nào cũng giữ trên môi một nụ cười hiền.
Theo thói quen, ba luôn chọn chỗ ngồi ngay trước quầy để tiện trò chuyện cùng chủ quán hoặc đôi ba người bạn. Ba gọi một ly cà phê đen, đậm và nóng. Còn tôi, bao giờ cũng là một ly cà phê pha thật nhiều sữa. Có lẽ nó gần như một ly bạc xỉu kiểu người Hoa, nhưng ngọt hơn nữa, ngọt đến mức một đứa trẻ có thể nhấp từng ngụm nhỏ mà vẫn thấy như đang thưởng thức một món quà đặc biệt.
Cho đến tận bây giờ, vị ngọt lịm của thứ nước nâu sóng sánh ấy dường như vẫn còn đọng lại nơi đầu lưỡi tôi. Ly cà phê thuở nhỏ trở thành một phần ký ức tuổi thơ êm đềm, để tôi mang theo suốt năm tháng sau này.
Nhưng rồi thời gian trôi qua, kéo dài đủ lâu để dạy tôi hiểu rằng, không phải vị ngọt cà phê là điều con người nhớ lâu nhất. Chính vị đắng mới là thứ ở lại bền bỉ hơn.
Cái đắng thấm chậm, lan sâu, và âm thầm neo lại trong tâm trí. Nó giống như ký ức đời người, không hẳn nằm ở những gì ngọt ngào nhất, mà thường tồn tại trong những dư vị âm ỉ, đôi khi pha lẫn mất mát và đau thương. Càng lớn lên, người ta càng hiểu rằng ly cà phê không chỉ để thưởng thức, mà còn để nếm trải chính mình.
Thuở vừa lớn
Đà Nẵng sau năm 1975 mang một sắc thái rất khác. Không hẳn buồn, nhưng cũng chẳng thể gọi là vui. Thành phố dường như sống trong một khoảng chờ đợi kéo dài, như thể có một tầng không khí nặng nề đang chậm rãi phủ xuống từng con phố, khu chợ, mái nhà quen thuộc. Một nỗi bồn chồn mơ hồ len lỏi vào đời sống thường nhật, không ai thực sự biết điều gì đang đến, nhưng hầu như ai cũng cảm nhận được.
Giữa bối cảnh ấy, quán cà phê mọc lên khắp nơi.
Chúng không chỉ đơn thuần là kế sinh nhai, mà còn trở thành những nơi để con người tạm ngồi lại, tìm cho mình một nhịp thở nhẹ hơn, một chút cân bằng giữa thời cuộc nhiều bất an. Từ những mặt tiền đường lớn đến các con hẻm nhỏ, từ quán sang trọng có máy lạnh và tiếng nhạc du dương đến những quán “cóc” vỉa hè với vài bộ bàn ghế gỗ thấp, ở đâu người ta cũng có thể dựng nên một không gian cà phê.
Những cái tên như Lộng Ngọc, Tuổi Ngọc, Thiên Nga, Paloma, Danube, Quỳnh Châu, Ngọc Anh… từng là những điểm hẹn quen thuộc của tuổi trẻ Đà Nẵng thời ấy. Đó là những quán tương đối sang trọng, mát lạnh giữa mùa hè, nơi những bản nhạc không lời vang lên giữa làn khói thuốc mỏng, nơi cô thu ngân sau quầy không chỉ là người tính tiền mà đôi khi còn trở thành một phần của vẻ đẹp khiến khách nán lại lâu hơn cần thiết.
Nhưng với tôi, linh hồn thật sự của thành phố lại nằm ở những quán “cóc” bình dân như Thanh Long, Viên, hay Diên Hồng. Ở đó, mọi thứ gần gũi hơn, ồn ào hơn, và cũng chân thật hơn.
Quán Viên của hai chị em cô Mùi, cô Hương, được đặt theo tên tiệm may của gia đình nằm ngay bên cạnh. Một góc quán còn nhường chỗ cho xe mì của chú Cẩu, người Hoa, với những tô mì nước béo ngậy, thơm nồng, trở thành phần ký ức không thể thiếu của nhiều người.
Quán Diên Hồng nổi tiếng không chỉ bởi cà phê, mà còn bởi bốn chị em Xuân, Thu, Đông, Thủy - những nhan sắc từng khiến bao chàng trai ngày ngày “trồng cây si” nơi vỉa hè nhỏ ấy. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn đôi khi tự hỏi vì sao lại là cô Thủy chứ không phải cô Hạ để đủ bốn mùa của đất trời. Một câu hỏi vớ vẫn thôi, nhưng vẫn còn nằm mãi đâu đó trong trí nhớ.
Còn Thanh Long, cũ kỹ và giản dị, lại là nơi người ta tìm đến không phải để ngắm nhìn ai, mà để trò chuyện, bàn luận thơ văn, hay đơn giản chỉ để cảm thấy mình chưa hoàn toàn lạc lõng giữa cuộc đời nhiều biến động.
Chúng tôi, những cậu học trò vừa chớm lớn, cũng không nằm ngoài thế giới ấy. Một chút buồn trước thời cuộc. Một chút kiểu cách làm dáng của tuổi mới lớn. Một chút khát khao được thuộc về một nơi nào đó.
Chúng tôi ngồi trong những quán nhỏ, quanh bàn gỗ cũ, trên những chiếc ghế thấp. Cà phê nhỏ từng giọt qua chiếc phin nhôm bạc màu. Từng giọt rơi chậm đến mức tưởng như thời gian cũng đang bị níu giữ. Âm thanh ấy đều đặn, lặng lẽ, nghe như chính nỗi buồn tuổi trẻ đang tan xuống đáy ly.
Tôi có những người bạn của thời ấy.
Long là “nhà thơ” của cả nhóm. Anh lúc nào cũng mang theo bên mình một cuốn sổ tay nhỏ. Thỉnh thoảng, giữa lúc câu chuyện còn rộn tiếng cười, Long lại cúi xuống ghi vội vài dòng, như sợ những ý thơ vừa chớm đến sẽ lập tức tan biến. Anh ít nói, nhưng mỗi lần lên tiếng, câu chuyện quanh bàn cà phê dường như rộng thêm ra một chút. Có những buổi chiều nhạt nắng, Long bất chợt đọc vài câu thơ của mình, và không gian khi ấy bỗng sáng lên bằng thứ ánh sáng rất riêng của chữ nghĩa.
Rồi Tùng, anh bạn nhỏ hơn tôi hai tuổi nhưng luôn được gọi là “triết gia”. Tùng nói về Sartre, Camus, Phạm Công Thiện hay Bùi Giáng bằng giọng điệu như thể những con người ấy từng ngồi đâu đó trong một quán cà phê vô hình, cùng nó tranh luận suốt đêm. Tôi không hiểu hết những điều Tùng nói, nhưng vẫn thích ngồi nghe, bởi ở nó luôn có điều gì đó khiến người khác tin rằng thế giới này rộng hơn rất nhiều những gì mắt mình nhìn thấy.
Có lần, Tùng nói rồi một ngày nó sẽ rời thành phố này để đi thật xa. Chúng tôi nghe vậy chỉ cười. Nhưng nhiều năm sau, chính tôi mới là người rời đi.
Giờ nhìn lại, tôi không còn biết ai trong chúng tôi mới là người nhìn thấy tương lai rõ hơn.
Nhiều người từng ngồi cà phê ở Đà Nẵng thuở ấy hẳn vẫn còn nhớ ba anh em nhà họ Nguyễn: anh Khoa, anh Đạm và Nhiều. Nhà các anh chỉ cách nhà tôi vài bước chân.
Là anh em ruột, dường như họ cùng mang một thứ “gene” đặc biệt. Họ giống nhau trong cử chỉ nói chuyện, trong cách lập luận sắc bén, cuốn hút, cho đến nét hài hước rất riêng. Mỗi lần họ xuất hiện, người ta lại muốn ngồi gần để nghe chuyện. Những câu chuyện của họ vừa duyên dáng, vừa thông minh, khiến người nghe bật cười nhưng rồi cũng phải ngẫm nghĩ.
Điều thú vị là dù ruột thịt, khi đi uống cà phê, ba anh em hiếm khi ngồi chung một quán. Có lẽ họ sợ câu chuyện bị “đụng hàng”. Mỗi người thường “đóng đô” ở một nơi khác nhau, như thể tự chia cho mình những lãnh địa riêng của bạn bè và những cuộc trò chuyện. Nghe đâu bây giờ cả ba đều đang sống ở Dallas, Hoa Kỳ.
Tuổi trẻ của chúng tôi đã lớn lên giữa những quán cà phê như Viên, Diên Hồng, Thanh Long; lớn lên nơi góc phố giao nhau giữa Yên Bái, Đồng Khánh, Trần Hưng Đạo và Nguyễn Thái Học. Trong không gian gần gũi ấy luôn có tiếng cười, những câu chuyện tếu táo, những cuộc tranh luận vu vơ về văn chương, tình yêu, hay cả chuyện vượt biên từng là đề tài thời thượng một thời. Khi ấy, ai cũng nghĩ những ngày tháng đó sẽ còn kéo dài mãi mãi.
Nhưng rồi mọi thứ cũng đổi thay. Bạn bè dần tản mác. Những quán cà phê cũ lần lượt mất dấu. Thành phố đổi khác theo thời gian. Góc phố năm nào có thể vẫn còn trên bản đồ, nhưng trong đời thực, chúng không còn nguyên vẹn như trong ký ức nữa.
Bây giờ, tôi đã đi rất xa nơi ấy. Đà Nẵng của một thời tuổi trẻ giờ chỉ còn lại trong trí nhớ. Giữa thành phố Boston hôm nay, dù đã sống qua bao nhiêu năm tháng, tôi vẫn thấy mình có phần xa lạ, ít nhất là với cách người ta ngồi uống cà phê ở đây.
Người ta bước vào quán, mở laptop làm việc, trao đổi với nhau vài câu ngắn ngủi rồi vội vã rời đi. Nhanh chóng. Hiệu quả. Gọn gàng. Văn hóa Mỹ dường như là thế. Không ai thật sự “ngồi”. Không ai ở lại chỉ để nhìn thời gian trôi chậm qua một khung cửa kính. Đôi khi điều đó khiến tôi cảm thấy cà phê ở đây chỉ còn là một chức năng của đời sống, chứ không còn là nơi để tâm hồn trú lại đôi chút giữa những mệt mỏi thường ngày.
Chiều nay, tôi ngồi trong một quán Starbucks đối diện ga Malden Center. Cơn mưa tối qua vẫn để lại những chiếc lá ướt nằm im trên mặt đường. Một chuyến tàu dừng lại rồi rời đi. Tiếng còi kéo dài vang lên như một câu hỏi không lời đáp.
Tôi nhìn qua lớp kính, và bất chợt, một buổi chiều rất xa hiện về.
Bên ly cà phê bốc khói, tôi từng ngồi nhìn những tà áo dài trắng lướt qua. Những gương mặt thân quen đã từng làm lòng mình rung động thuở học trò. Khoảnh khắc ấy thật ra chẳng có gì đặc biệt, vậy mà bằng một cách nào đó, nó vẫn ở lại trong tôi cho đến tận bây giờ.
Ký ức vốn là một nơi rất lạ. Nó không tuân theo logic, không già đi, cũng không đổi thay. Nó giống như một quán cà phê cũ, nơi con người có thể quay về bất cứ lúc nào, chỉ cần nhắm mắt lại.
Ở đó, bạn bè vẫn còn trẻ. Những câu chuyện vẫn còn dang dở. Ly cà phê vẫn nhỏ từng giọt chậm rãi. Và ta, bằng một cách nào đó, vẫn còn ngồi đó, chờ một điều gì đó. Một điều có lẽ chưa bao giờ thật sự đến.

Trương Hữu Hiền 
https://www.facebook.com/share/p/1Gua3uGcML/

___________________

Monday, May 18, 2026

SỰ THẬT TRẦN TRỤI: RUỘT CỦA BẠN KHÔNG PHÂN BIỆT YẾN – TRỨNG GÀ – THẬM CHÍ CẢ NẤM TRUFFLE!

 

Chúng ta thường nghe: "Ăn cái này bổ lắm", "Uống cái kia tốt lắm". Nhưng có một sự thật phũ phàng mà ít người bán hàng nào dám nói với bạn: Cơ thể con người là một bộ máy sinh học cực kỳ dân chủ và độc tài.

Sunday, May 17, 2026

ĐỪNG VỘI..

Minh Hân Phan 

Đừng vội ngưỡng mộ một người luôn mỉm cười.
Không phải vì nụ cười ấy không đẹp, 
mà vì bạn chưa biết họ đã đi qua những gì để giữ được nụ cười đó.

Có những người trông lúc nào cũng tích cực, lời nói nhẹ nhàng, thái độ điềm tĩnh, dường như chẳng có điều gì làm họ lung lay.

Friday, May 15, 2026

THI SĨ PHẠM THIÊN THƯ KỂ VỀ CÔ BẠN GÁI CÙNG LỚP HOÀNG THỊ NGỌ.

.

Thi sĩ Phạm Thiên Thư, tác giả của “Ngày Xưa Hoàng Thị” đã qua đời ngày 7 tháng 5 năm 2026 tại Sài Gòn, hưởng thọ 86 tuổi.  Xin kính tiễn ông đi về cõi vĩnh hằng.

THI SĨ PHẠM THIÊN THƯ KỂ VỀ CÔ BẠN GÁI CÙNG LỚP HOÀNG THỊ NGỌ.

“Rất đơn giản, tôi tuổi Thìn (1940), còn cô ấy tuổi Ngọ (1942) cho nên được bố mẹ đặt luôn tên là Ngọ. Cách nhau 2 tuổi nhưng học cùng lớp đệ tam (lớp 10 bây giờ) ở trường Trung học Văn Lang (khu Tân Định). Ngọ có dáng người thanh mảnh với mái tóc dài thả ngang vai. Mỗi khi xếp hàng vào lớp, cô ấy đứng đầu hàng bên nữ, tôi đứng cuối hàng bên nam, tha hồ ngắm… Vào lớp, cô ấy ngồi bàn đầu, tôi bàn cuối. Ngọ học rất giỏi, còn tôi chỉ giỏi… đánh lộn (gia đình tôi vốn có truyền thống võ thuật). Có lần thầy giáo gọi tôi lên trả bài, tôi không thuộc nhưng thay vì lên tận bàn thầy giáo trên bục giảng, tôi chỉ đi đến ngang chỗ Ngọ ngồi thì dừng lại. Ngọ biết ý, mở cuốn tập ra cho tôi… liếc, đọc vanh vách!